Những sự thật về bộ não ít người biết tới (phần 2)

Những sự thật về bộ não ít người biết tới (phần 2)

Đăng lúc: 10/08/2013 - 09:03
Nguyễn Hải Liên
Nguyễn Hải Liên
Đà Nẵng



Tiếp theo những sự thật thú vị mà ta đã được biết ở phần trước.

 


      Trong một số thời điểm của lịch sử, hình thức chặt đầu đã được áp dụng để trừng trị các phạm nhân tử hình. Máy chém thậm chí được coi là phương thức nhân đạo so với nhiều hình thức tử hình khác vì nó rất nhanh gọn, không đau đớn nhiều. Nhưng khi một cái đầu lìa khỏi cổ, có thể chúng ta sẽ thấy có chút phản ứng trên mặt một vài giây sau đó. Liệu đó có phải là bằng chứng cho việc bộ não vẫn hoạt động ?

      Vấn đề này có lẽ được để ý đầu tiên trong cuộc Cách mạng Pháp – khi có rất nhiều người bị hành hình bằng máy chém. Ngày 17 tháng 7 năm 1793, một phụ nữ tên là Charlotte Corday bị hành quyết vì ám sát Jean-Paul Marat -một nhà báo,  nhà chính trị. Marat cũng đứng dưới đám đông khi Corday bị hành quyết. Sau khi đầu Corday rơi xuống, một trong những đao phủ nhặt nó lên và tát vào má. Theo các nhân chứng thì mắt Corday quay sang nhìn người đàn ông và khuôn mặt thay đổi một biểu hiện của sự phẫn nộ.

      Một câu chuyện khác là vào năm 1905, Tiến sĩ bác sĩ người Pháp Gabriel Beaurieux chứng kiến ​vu chặt đầu một người đàn ông tên là Languille. Tiến sĩ đã miêu tả sau cái chết : "mí mắt và đôi môi ... hoạt động trong các cơn co thắt bất thường một cách nhịp nhàng trong khoảng năm hoặc sáu giây".

      Những câu chuyện này dường như đưa ra ý tưởng rằng có thể người bị chặt đầu vẫn còn tỉnh sau khi đầu lìa khỏi cổ dù chỉ trong một vài giây. Tuy nhiên , các bác sĩ hiện đại tin rằng các phản ứng mô tả ở trên là là do phản xạ co giật của cơ bắp chứ không phải là từ ý thức. Sau khi đầu bị chặt, não không còn được cung cấp máu và oxy nữa và ngay lập tức sẽ rơi vào tình trạng hôn mê và bắt đầu chết [ nguồn : New Scientist ] .

 Những tổn thương của não không thể hồi phục

      Những tổn thương trong bộ não là một điều vô cùng đáng sợ. Não luôn là một bộ phận có vẻ bí ẩn, mong manh, khó chạm tới và lại phải đối mặt với nhiều nguy cơ thương tổn. Tổn thương não có thể bị gây ra bởi nhiều lý do như : một vu đụng xe, một cú va chạm đầu mạnh … Nhìn chung, trong suy nghĩ của mọi người thì tổn thương não gắn với hình ảnh của những người phải sống trạng thái thực vật hoặc khuyết tật về tinh thần/thể chất vĩnh viễn.

      Điều này không hoàn toàn là đúng. Có rất nhiều loại tổn thương não khác nhau và tùy từng vị trí tổn thương, mức độ nghiêm trọng của vết thương sẽ quy định rằng chủ thể sẽ bị ảnh hưởng như thế nào. Các chấn thương nhẹ chỉ ảnh hưởng phía bên ngoài hộp sọ có thể chỉ khiến người bị thương chảy máu bên ngoài hoặc bị ảnh hưởng rất nhẹ, có thể tự phục hồi nhanh chóng và không đem lại thương thật vĩnh viễn nào hết.

      Những thương tổn nặng là những thương tổn đòi hỏi phẫu thuật như tụ máu chẳng hạn. Nếu tế bào thần kinh bị hư hỏng hoặc bị chết, chúng không thể phát triển trở lạ. Tuy nhiên các khớp thần kinh , kết nối giữa các tế bào thần kinh thì có thể phục hồi. Vậy nên những trường hợp như thế này thì còn tùy tình trạng của tổn thương mà đánh giá mức độ thương tổn vĩnh viễn như thế nào.

Sử dụng thuốc kích thích khiễn não có lỗ

      Việc các loại thuốc kích thích ảnh hưởng đến não như thế nào đã gây rất nhiều tranh cãi. Một số người cho rằng chỉ có sử dụng những loại ma túy mạnh nhất mới làm ảnh hưởng tới não lâu dài. Một nghiên cứu quốc gia gần đây lại cho thấy rằng sử dụng các loại ma túy nhẹ như cần sa chỉ gây mất trí nhớ nhẹ. Trong khi đó một nghiên cứu khác lại tuyên bố rằng cần sa có thể làm não bị teo. Các loại ma túy khác như cocaine hoặc ecstasy thậm chí còn bị cho rằng sẽ tạo lỗ trong bộ não của chúng ta.

      Thực sự thì quan niệm trên hoàn toàn sai. Chỉ những chấn thương về mặt vật lý mới có thể tạo ra lỗ trong não bạn. Sử dụng ma túy có thể tác động đến sự dẫn truyền thần kinh, đó cũng là lý do người nghiện cần nhiều thuốc hơn nữa để đạt được cùng một cảm giác. Ngoài những thay đổi trong mức độ dẫn truyền thần kinh thì ma túy còn có thể gây ra tổn thương cho các tế bào thần kinh. Mặt khác, một nghiên cứu của New Scientist từ tháng 8 năm 2008 cho rằng dùng ma túy thường xuyên cũng ảnh hưởng nhất định tới cấu trúc phát triển não. Họ cho rằng đó là lý do tại sao thay đổi hành vi của người nghiện là rất khó. Nhưng dù ảnh hưởng thế nào đi chăng nữa thì dùng ma túy cũng không tạo ra lỗ hổng trong bộ não.

 

Chất cồn giết chết tế bào não

      Chỉ cần quan sát hành động của một người say rượu thôi là ta cũng có thể khẳng định được luôn là loại chất cồn này có ảnh hưởng trực tiếp đến não. Những người bị say rượu thường bị suy giảm kỹ năng kiểm soát bản thân, khả năng vận động và nhiều tác dụng phụ khác. Người say rượu thường bị đau đầu, buồn nôn và rất khó chịu. Tuy nhiên rằng có thật là việc say rượu có thể giết chết các tế bào não ?

      Thực chất thì kể cả ở người nghiện rượu lâu dài thì các tế bào não cũng không chết vì rượu. Nhưng nó làm tổn thương các tế bào đó, đặc biệt là phần đuôi gai (mỗi nơron thường có nhiều đuôi gai, mỗi đuôi gai chia làm nhiều nhánh. Đuôi gai là bộ phận chủ yếu tiếp nhận xung động thần kinh truyền đến nơron). Theo nhà nghiên cứu Roberta J. Pentney - giáo sư về giải phẫu và sinh học tế bào tại Đại học Buffalo thì chủ yếu là người say rượu sẽ không kiểm soát được thông điệp mình truyền đạt đi.

      Người nghiện rượu có thể bị một hội chứng thần kinh có tên là Wernicke-Korsakoff. Hội chứng này có thể dẫn đến mất mát của các tế bào thần kinh ở một số vùng của não bộ. Hội chứng này cũng gây ra các vấn đề về bộ nhớ, lú lẫn, thiếu sự phối hợp cơ bắp. Nó có thể dẫn đến tử vong. Tuy nhiên, nguyên nhân của rối loạn này không hoàn toàn do rượu. Đó là kết quả của sự thiếu hụt thiamine, vitamin B. Vì vậy, nhìn chung rượu không thực sự giết chết các tế bào não mà chỉ gây tổn thương não nếu bạn uống lượng lớn.

 

Bạn chỉ đang sử dụng 10% của não

      Mọi thường truyền đi với nhau rằng thực sự rằng chúng ta chỉ đang sử dụng 10% não của mình. Thông tin này có lẽ là một trong những thông tin phổ biến nhất liên quan đến não. Có vẻ như điều này xuất phát đầu những năm 1900 từ William James – một nhà triết gia kiêm tâm lý học người Mỹ, ông ta tuyên bố rằng “một người bình thường chỉ sử dụng một phần nhỏ tiềm năng của bộ não”.

Chia sẻ:
Đánh giá:
Bình chọn: 0/5 - 0 lượt bình chọn

Các bài liên quan

Bình luận
Viết bình luận



Hỗ trợ trực tuyến

QUẢNG CÁO